Hắn không hề đến thăm ta.
Ngược lại Ôn Nhược Đường đến mấy lần. Lần nào đến cũng mang theo thuốc bổ, cười híp mắt ngồi bên mép giường trò chuyện với ta.
“Tẩu tẩu, Diễn Chu ca không phải không quan tâm tẩu đâu. Huynh ấy tính tình là thế, ít nói, không biết cách biểu đạt.” Cô ta nắm tay ta, đôi mắt cong cong, “Tẩu tẩu đừng nghĩ nhiều.”
Ta gật đầu, nói được.
Ngày An An chào đời, Cố Diễn Chu ở trong thư phòng.
Lúc bà đỡ bế đứa trẻ ra báo tin mừng, hắn đang đánh cờ với Ôn Nhược Đường.
Hắn đặt quân cờ xuống, đi xem đứa trẻ một chút.
“Là con gái.” Hắn nói với Ôn Nhược Đường, “Sau này muội giúp đỡ chăm sóc nó nhé.”
Không phải nói với ta.
An An đầy tháng xong, bị bế sang chính viện, do Cố mẫu chăm sóc. Lý do là “Con dâu mới còn trẻ, không biết chăm con.”
Ta đến chính viện thăm con gái, Cố mẫu bưng tách trà, nói: “Chính thân thể cô còn chưa tẩm bổ khỏe lại, đừng qua đây nữa, chỗ ta không thiếu người hầu hạ.”
Sau này, từ đầu tiên An An mở miệng gọi không phải là “Nương”, mà là “Dì Đường”.
Sau này nữa, Ôn Nhược Đường dạy con bé gọi “Nương thân”.
An An liền thật sự gọi như thế.
Lần đầu tiên nghe thấy, ta đang đứng ngoài cửa, bưng trên tay bát canh mộc nhĩ tuyết nhĩ vừa mới hầm xong.
“Nương thân, con muốn ăn bánh hoa quế.” An An nói giọng non nớt, kéo tay áo Ôn Nhược Đường.
“Được, nương thân lấy cho con.” Ôn Nhược Đường cười đáp.
Cô ta ngẩng đầu lên, vừa vặn nhìn thấy ta đang đứng ở cửa.
Bốn mắt nhìn nhau.
Trong mắt cô ta không hề có sự áy náy.
Mà là một sự xác nhận. Xác nhận ta đã nghe thấy. Xác nhận ta bất lực. Xác nhận trong cái nhà này, cô ta mới là người được cần đến.
Ta bưng bát canh, lùi bước đi ra.
Đến hành lang, đầu gối bủn rủn, phải vịn vào cây cột.
Bát canh đổ. Bát sứ không vỡ, lăn hai vòng trên mặt đất rồi dừng lại.
Một nha hoàn đi ngang qua, liếc nhìn cái bát dưới đất, đi vòng qua.
Không một ai cúi xuống nhặt.
Đêm đó, ta ngồi dưới gốc lựu đã chết khô một nửa trong sân của mình, lấy cây trâm bích ngọc ra nhìn rất lâu.
Đây là nương để lại cho ta. Cha nói, lúc nương ta đi chỉ có một tâm nguyện — hy vọng đời này ta được bình an suôn sẻ.
Ta cất trâm vào hộp.
Ba năm. Còn hơn hai năm nữa. Ta chịu đựng được.
Năm
Mười ngày trước khi kỳ hạn ba năm kết thúc, một bức thư từ Giang Nam gửi đến kinh thành.
Phong thư không có bất kỳ dấu hiệu nào, được kẹp trong một cuộn vải thông thường, do một người bán hàng rong đưa tận tay cho Thanh Hòa – nha hoàn thân cận của ta.
Bức thư chỉ có một dòng chữ —
“Cục diện đã định, ngày về sắp tới. Mùng tám tháng Tư, Mạnh bá đợi ở ngõ Vĩnh An.”
Thanh Hòa là người từ Thẩm gia theo ta xuất giá. Ba năm qua, chỉ có nàng ấy biết thân phận thực sự của ta.
Nàng ấy đọc xong thư, tay run rẩy cầm tờ giấy không vững.
“Tiểu thư —”
“Suỵt.”
Ta đưa bức thư lại gần ngọn nến. Giấy cuộn lại, cháy đen, hóa thành tro.
Mùng tám tháng Tư, tức là mười ngày nữa.
Chuyện hòa ly, cần một lý do.
Không cần lý do quá tốt. Trong mắt người Cố gia, ta vốn dĩ là một kẻ có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Của hồi môn bèo bọt, nhà mẹ đẻ thất thế, trượng phu không gần gũi, mẹ chồng không ưa. Nhắc đến chuyện hòa ly, có lẽ bọn họ còn cầu mà không được.
Ta đi tìm Cố mẫu.
“Hòa ly?” Tràng hạt trong tay Cố mẫu dừng lại. Bà ta nhìn ta, trong ánh mắt có một tia kinh ngạc ngắn ngủi, sau đó nhanh chóng bị thay thế bởi sự nhẹ nhõm như đã hiểu ý nhau từ lâu.
“Cô suy nghĩ kỹ rồi chứ?”
“Nghĩ kỹ rồi.”
“Của hồi môn tính sao?”
“Quy ra bạc.”
Cố mẫu gật đầu. Sảng khoái đến mức bớt luôn cả một câu níu kéo khách sáo.
“Ta sẽ đi nói với Diễn Chu.” Bà ta đứng lên, lúc đi ngang qua ta, phá lệ vỗ vỗ vai ta.